Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

0
Loading...

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Nhắc đến thời Trần, chúng ta vẫn tự hào về ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Những chiến tích của các vị danh tướng dệt nên triều đại bất khả chiến bại hào hùng, bất khuất, làm nên hào khí Đông A uy dũng khiến kẻ địch phải khiếp sợ. Không chỉ trên chiến trường đẫm máu, hào khí ấy còn được lưu lại trong thi ca. Đó là bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử con vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)

Tuy chỉ có ít bài thơ được lưu lại đến tận bây giờ nhưng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ lão đã thật sự chạm đến tim người đọc, để lại những giá trị bất diệt và khắc họa một thời kỳ hào hùng của lịch sử dân tộc. Ngoài đời ông là một vị danh tướng lẫy lừng với lòng yêu nước, là một người có niềm kiêu hãnh và tự tôn dân tộc. Cả trong thi ca ông để lại, trên hết là bài “Tỏ lòng” cũng vậy, bao trùm là hào khí dân tộc, là sức mạnh nuốt trọn địch thù, nhưng bên trong lại là chí khí nam nhi, vùng vẫy dọc ngang trời đất, quyết trả món nợ “tang bồng” với đất nước, sử xanh.

Bài thơ Tỏ lòng viết vào thời điểm trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, như tiếng trống quân thôi thúc dồn dập đẩy ý chí và quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm lên mức cao nhất. Ngay từ đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã xây dựng một bức tượng đài bất tử về hình ảnh người tráng sĩ với vận mệnh bảo vệ giang sơn, tiêu diệt kẻ thù. Sục sôi trong đó là hào khí Đông A đang hừng hực chảy.


Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu
(Múa giáo non sông trải mấy thu)

Mở đầu bài thơ là hình ảnh người tráng sĩ hiên ngang bệ vệ “Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã mấy thu.” Đó là hình tượng của một nhân vật phi thường với sức mạnh vĩ đại, sự hùng dũng, hiên ngang, ngạo nghễ ngút trời đứng sừng sững như một pho tượng bảo vệ đất nước. Chỉ với hai từ “hoành sóc”, người tráng sĩ đã trở thành một nhân vật vĩ đại, ngọn giáo nằm hiên ngang từ tầm mắt trông ra như chắn cả sơn hà, khiêu khích bất cứ kẻ địch nào dám xâm phạm lãnh thổ. Ẩn sâu trong đó là tiềm lực của chí khí, sức mạnh, lòng tin cũng như hào khí Đông A đang càng lúc càng lớn mạnh. Phải chăng, đó cũng là ẩn dụ về hình ảnh của chính Phạm Ngũ Lão, vị tướng lĩnh hiên ngang trên chiến trường, từ cái nhìn cá nhân trông ra với tư thế cầm ngang ngọn giáo? Thật tiếc khi mà bản dịch hai từ “hoành sóc” lại thành “múa giáo”. Hai chữ “múa giáo” làm mất đi khí thế oai nghiêm, hùng dũng của người tráng sĩ. “Múa giáo” thiên về hành động, tuy làm cho hình ảnh trở nên linh hoạt nhưng không lột tả được ý nghĩa trang nghiêm, trịnh trọng cũng như cảm giác về một hình tượng anh hùng bất khuất trong bài thơ. Cụm từ “hoành sóc giang sơn” như dựng lên một chiếc trụ trời hiên ngang chống đỡ cả giang sơn. Thật hay khi bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh tuy trang nghiêm, khí thế nhưng cũng không kém phần thi vị. Thường nhắc đến trấn giữ non sông người ta sẽ liên tưởng hình ảnh những đoàn binh lính hùng hậu với áo mũ chỉnh tề. Nhưng trong thơ của Phạm Ngũ Lão, chỉ cần một ngọn giáo đã có thể giữ giang sơn. Đó không phải là sự kiêu ngạo khi xây dựng hình tượng người tráng sĩ trong “Tỏ lòng”, đó là ý thức, trách nhiệm to lớn của cá nhân về việc gìn giữ non sông. Ngọn giáo tuy trông nhỏ bé nhưng có sức nặng của nó, như thể hiện sự tồn vong của đất nước đã trở thành chức trách đè nặng lên vai người tráng sĩ. Và điều đó đã “trải mấy thu” càng khẳng định khí thế và sức mạnh vượt mọi thời gian lẫn không gian, đề cao tinh thần cũng như nâng tầm vóc người anh hùng sánh ngang với vũ trụ. Dù bất kể gian lao, khó khăn, nguy hiểm, hình tượng người tráng sĩ vẫn sừng sững với non sông, bền bỉ và kiêu hãnh cùng lòng tự tôn dân tộc như vậy.

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Người tráng sĩ trong “Tỏ lòng” với cá nhân đơn lẻ đã mang đến khí thế ngút trời, tầm vóc lớn lao qua ngòi bút điêu luyện của Phạm Ngũ Lão thì ắt hẳn đội quân nhà Trần, binh đoàn với hai chữ “Sát Thát” lại càng nổi bật hơn cả. Đặc biệt, trong đó còn là niềm tự hào dân tộc hòa quyện cùng hào khí Đông A thể hiện trong câu thơ


“Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Loading...

Với tinh thần, trí lực, sức mạnh to lớn khôn tả, “ba quân” trong thơ của Phạm Ngũ Lão đã hiện lên chân thực hơn bao giờ hết. Những người lính xăm lên mình chữ “Sát Thát” quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi đất nước, dòng máu sôi sục hào khí Đông A với khí lực như hổ báo, oai linh rừng già, có thế nuốt được cả trâu. Việc sử dụng điển cố trong Thi từ “Giống hổ báo nhỏ tuy chưa thành vằn, đã có sức nuốt được cả trâu” đã tăng tính trang trọng, kỷ luật quân đội được mô tả trong tác phẩm. Nhưng cũng có thể hiểu câu này qua thành ngữ “khí thôn Ngưu Đẩu” (khí mạnh nuốt sao Ngưu, sao Đẩu). Dù hiểu theo cách nào, chúng ta vẫn thấy một sức mạnh khủng khiếp cùng sự gan dạ, kiên cường đem theo một khí thế lấn áp quân địch tiến ra chiến trường. Hàng loạt các thanh bằng được sử dụng trong câu thơ thứ hai đã mang tới sự âm vang cộng hưởng đến vũ trụ, tầm vóc người anh hùng đã lớn lao, nay lại cả một đoàn quân với sức, trí, kiên trung không kém vọng tiếng giết địch oai hùng lên đất trời. Ắt hẳn sức mạnh ấy phải khủng khiếp và kinh hãi thế nào mới nuốt trọn được những vật bất biến như sao Ngưu, Đẩu trên trời. Câu thơ là niềm tự hào khôn kể về tiềm lực quân đội của đất nước cũng như ý chí, vẻ đẹp của người tráng sĩ trên đường bảo vệ đất nước trong thời đại nhà Trần. Cũng bởi qua lịch sử và cả thi ca, một thời hảo hùng vẻ vang những năm kháng chiến chống Nguyên Mông càng trở nên bất tử và vĩnh viễn sôi sục chiến công với những con người kiệt xuất, vĩ đại.

Nếu như hai câu thơ đầu, khí thế ra trận như vũ bão, hào hùng và rắn rỏi thì hai câu thơ cuối, Phạm Ngũ Lão như để lắng lại cho lời bộc bạch tự đáy lòng về chí làm trai cùng món nợ giang sơn của đấng nam nhi, còn là trách nhiệm với non sông đất nước. Nỗi lòng ấy đầy thiết tha, như một dấu lặng trầm xuống trong bản nhạc kiêu hùng được viết bằng cả tấm lòng.

Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)

Vẻ đẹp của đấng nam nhi không chỉ là tầm vóc, khí thế hiên ngang, anh hùng bất khuất mà hơn cả chính là chí làm trai được để cao trong xã hội phong kiến đương thời. Và chí làm trai ấy trong quan niệm của Phạm Ngũ Lão chính là tiếng thơm, công danh lưu truyền lại muôn đời. Thế nhưng, khi bài thơ viết ra là thời điểm trước cuộc chiến Nguyên – Mông lần thứ hai, trách nhiệm trọng đại lúc bấy giờ là làm sao phải đánh thắng quân địch. Đó là công danh mà Phạm Ngũ lão hướng đến, toàn thể tráng sĩ Đông A hướng đến, đem về thắng lợi to lớn cho dân tộc, lưu danh sử sách muôn đời. Khát vọng ấy vô cùng cao cả và chính đáng, là sự ngưỡng mộ và tin tưởng với người tráng sĩ, anh hùng trong tác phẩm. Nhưng “Nam nhi vị liễu công danh trái”, món nợ công danh chưa thành, như lời cảm thán hổ thẹn với công ơn xã tắc. Món nợ ấy nguyện được trả bằng xương máu, trả bằng hy sinh, trả bằng tự do của dân tộc. Nghĩa vụ ấy không chỉ đơn thuần của cá nhân mà còn cả muôn đấng nam nhi trong trời đất. Ấy là lý tưởng sống cao đẹp nhất mà người làm trai hướng đến thuở bấy giờ


“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.”
(Nguyễn Công Trứ)

Và từ “món nợ công danh” ấy, Phạm Ngũ Lão lại thốt ra một chữ “thẹn” trong câu thơ cuối của bài thơ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. “Vũ Hầu” chính là Gia Cát Lượng, một vị quân sư hết sức tài ba và lỗi lạc trong lịch sử Tam Quốc, ông hết lòng phò tá Lưu Bị gây dựng lại cơ đồ nhà Hán. Cái thẹn của Phạm Ngũ Lão, là cái thẹn với một nhân vật vĩ đại trong lịch sử. Gia Cát Lượng để lại tiếng thơm muôn đời về tài trí và cách cầm quân xuất chúng còn Phạm Ngũ Lão cho rằng bản thân chưa làm nên được điều gì to lớn cho tổ quốc, món nợ công danh vẫn chưa vẹn toàn. Cả một đời ngay cả khi viết “Tỏ lòng”, những việc Phạm Ngũ Lão làm được trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhà Trần ông đều cho là không đáng gì. Cũng bởi vậy mà mới thẹn lòng khi nghe “chuyện Vũ Hầu”. Cái thẹn ấy làm nên một nhân cách cao cả, làm nên tấm lòng và phẩm chất của vị tướng tài ba Phạm Ngũ Lão. Là cái thẹn bày tỏ sự quyết tâm trung thành, hết lòng cống hiến, tận tụy với an nguy xã tắc. Nỗi thẹn ấy càng làm đẹp thêm hình ảnh của người tráng sĩ, càng đề cao phẩm giá của con người. Đó còn là nỗi thẹn của một con người với hoài bão lớn lao nhưng vẫn có được sự khiêm tốn, một nhân vật vĩ đại vừa có tâm vừa có đức. Hơn cả, câu thơ còn là lời nhắc nhở, động viên bĩnh sĩ hãy tiến lên, giành lại tự do cho dân tộc, cho xứng với công ơn nước nhà và không hổ thẹn với lòng mình rồi mới nghĩ đến chuyện công danh.

Bài thơ “Tỏ lòng” viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, niêm luật chặt chẽ và đã thể hiện được toàn vẹn hào khí Đông A, đan xen với đó là những lý tưởng, khát khao, niềm tự hào dân tộc. Kết lại bài thơ, tư tưởng mà tác giả muốn truyền đến để lại sự sục sôi, kiêu hãnh và vui sướng trong lòng người đọc. Đó không chỉ là vẻ đẹp của người anh hùng tráng sĩ thời chiến tranh loạn lạc mà còn là nỗi lòng, lý tưởng được đền nợ nước, trả thù nhà. Bài thơ đã để lại tiếng vang lớn trong kho tàng thơ thất ngôn của Việt Nam, là một trong những tác phẩm thành công nhất của danh tướng thời Trần Phạm Ngũ Lão.

Ngọc Huyền

Chia sẻ bài viết: