Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt hay nhất

0
Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt

Bài làm

Bằng Việt là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Ông sáng tác hơn một trăm bài thơ và viết hơn một trăm bài dịch. Nổi bật trong sự nghiệp sáng tác chính là những bài viết về tình cảm gia đình, một trong số đó phải kể đến bài thơ Bếp Lửa.

Bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt nói về tình cảm bà cháu, được nhà thơ viết khi ông đang là một du học sinh tại Liên Xô. Bài thơ giống như sự hồi tưởng những kỉ niệm về những tháng ngày tuy đói khổ nhưng lại ấm áp, tràn đầy tình yêu thương của bà. Những kỉ niệm dường như sống lại vào một ngày đông giá rét, những tình cảm nhớ thương dường như trỗi dậy nhớ về cuộc sống khó khăn, gian khổ:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Hình ảnh đầu tiên nhà thơ không nhắc về bà luôn mà nhắc về “một bếp lửa”. Nhưng thông qua hình ảnh ấy ta cảm nhận được cảm giác ấm áp, chan hòa, dường như thấy được hình ảnh người bà thức dậy vào mỗi sớm mai để nhóm bếp. Ngọn lửa như “chờn vờn” để sưởi ấm cả căn nhà nhỏ bé vào sáng sớm mùa đông. Chính vì hình bóng của bà gắn với bếp lửa nên khi người cháu hồi tưởng về quá khứ thì hình ảnh bếp lửa như chập chờn trong tâm trí. Bếp lửa không chỉ sưởi ấm ngày đông mà còn giống như sưởi ấm trái tim cháu, để cho cháu không còn cảm thấy cô đơn, lãnh lẽo và trống vắng khi căn nhà chỉ có hai bà cháu. Bên cạnh đó người cháu còn trực tiếp bày tỏ tình cảm của mình đối với bà “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Chính là vì biết bà nhọc nhằn, tần tảo nắng mưa, sớm tối để chăm lo cho cháu nên dù cho khi bên bà hay ngay lúc này đang ở nơi phương xa thì những tình cảm cháu dành cho bà vẫn vẹn nguyên. Từ tình cảm đó dòng hồi tưởng đó tiếp tục được gợi mở theo ánh lửa:

Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt hay nhất

Phân tích bài thơ Bếp Lửa

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Loading...

Kỉ niệm mà cháu nhớ nhất đó chính là năm lên bốn, những kỉ niệm gắn liền với mùi khói, với cái đói ở quê nghèo. Trong những năm “đói mòn đói mỏi” ấy thì mùi khói như ám ảnh cả tuổi thơ người cháu, nó như ăn sâu vào tâm trí và khiến cháu không thể nào quên được. Khi ấy bao trùm lên cảnh vật chính là không khí tang thương, chết chóc của nạn đói năm 1945, nạn đói kinh hoàng đó đã cướp đi hơn hai triệu người. Không gian không chỉ là mùi khói từ bếp lửa, mà còn là khói từ ngoài đường xá, đồng ruộng với mùi xác chết. Khói cay xè mắt cháu, ám ảnh tới mức mà đến bây giờ hay nhiều năm về sau có lẽ cũng không bao giờ có thể quên được. Giữa lúc ấy, hình ảnh người bà xuất hiện giống như ánh sáng, giống như làn gió mát, trong lành đến bên cháu:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

Đoạn thơ gợi nhắc về kỉ niệm sáu năm người cháu sống cùng bà, mỗi ngày cùng bà nhóm lửa. Một bếp lửa thấm đượm tình thương giữa hai bà cháu. Trong tình cảm thân thương, ấm áp ấy hiện diện tiếng kêu của chim tu hú. Đây là loài chim quen thuộc thường xuất hiện vào mùa hè, tiếng chim da diết, cùng với tiếng bà kể chuyện:

“Mẹ cùng cha bận công tác không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”

Người cháu nhớ lại những tháng ngày được bà chăm sóc, dạy dỗ. Qua đó ta thấy được những phẩm chất cao quý của người bà. Bà mong có thể tự tay chăm sóc cho cháu để con trai bà có thể yên tâm làm việc ở chiến khu. Kể cả khi “giặc đốt làng”, khi túp lều tranh của hai bà cháu bị giặc đốt và được hàng xóm giúp đỡ dựng lại thì bà cũng không muốn cháu viết thư kể cho bố. Chính vì thế bà mới dặn cháu:

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”

Kết thúc khổ thơ nhà thơ đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành ngọn lửa bất diệt:

“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

Câu thơ mang sức truyền cảm mạnh mẽ  về hình ảnh bếp lửa về tình thương của bà. Để đến bây giờ, khi nhà thơ Bằng Việt ở xa vẫn luôn hướng về bà.

Bài thơ Bếp Lửa mang đến cho người đọc nỗi niềm xúc động về tình cảm giữa hai bà cháu. Khiến cho chúng ta thêm yêu thương đối với những người thân, với quê hương nơi chúng ta đã sinh ra và lớn lên, thêm trân trọng những gì mà ta đã và đang có.

Loan Trương

Chia sẻ bài viết:
<