Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết)


Chinh Phụ Ngâm là một tác phẩm bày tỏ được thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ phải chịu đựng cuộc đời hẩm hiu, xa chồng khi mà nước nhà có . Họ phải chờ đợi trong sự mòn mỏi, vô vọng. Tiếng gọi của họ hoàn toàn không có lời đáp.

Để giúp các em có thể hiểu rõ hơn về bài thơ này cũng như có thể phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm, chúng ta cùng đi lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm và tham khảo bài văn mẫu dưới đây.

I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm

1. Mở bài

về tác giả Đặng Trần Côn và bài thơ Chinh phụ ngâm.

– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

2. Thân bài

a. Tâm trạng của người chinh phụ khi tiễn chồng ra trận

– Tâm trạng rối bời, thấp thỏm, nhiều lo lắng thể hiện thông qua hành động đi quanh quẩn, buông rèm rồi lại cuốn rèm nhiều lần.

– Lặp đi lặp lại các hành động, cử chỉ trong vô thức.

– Nỗi cô đơn của người chinh phụ.

– Nỗi buồn kéo dài triền miên khi người chồng ra trận.

– Không gian mênh mông, nỗi cô đơn càng vô bờ bến.

– Nàng như người mất hồn, không còn tâm trí, sống trong lẻ loi, cô độc.

b. Niềm thương nhớ chồng của người chinh phụ

– Một nỗi nhớ da diêt, khôn nguôi người chinh phụ gửi tới nơi chiến trường cho người chồng.

– Nỗi đau day dứt, tâm trạng xót xa, buồn tủi, cô độc.

3. Kết bài

– Khái quát nội dung đoạn trích và nêu của em về đoạn trích này.               

Bài viết liên quan

>> Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết)

>> Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có dàn ý chi tiết)

II. Bài làm phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm

Văn học Việt Nam viết về nhiều chủ đề khác nhau nhưng xuyên suốt vẫn là cảm hứng nhân đạo. Giai đoạn nửa cuối thế kỉ 18 – nửa đầu thế kỉ 19 với rất nhiều những biến động của lịch sử xã hội đã khiến cho đời sống của gặp nhiều đe dọa. này, hình ảnh của người phụ nữ được nói đến khá nhiều. Một trong số những tác phẩm như vậy chính là Chinh phụ ngâm. Bài thơ giống như một lời than vãn đầy tủi hờn của người phụ nữ thời ấy. Cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi về tác giả của bài thơ nhưng dù là của Đặng Trần Côn hay Đoàn Thị Điểm thì đây cũng là bài thơ xuất sắc. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ mà chúng ta được học là đoạn trích thể hiện rõ nhất nội dung và cảm xúc của bài.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù.

Sau buổi tiễn đưa chồng ra trận trở về, người chinh phụ đã cảnh chiến trường mà xót xa, lo lắng cho chồng. Đồng thời người chinh phụ cũng ái ngại cho tình cảnh của mình. Ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn trích thì tâm sự ấy đã được thể hiện vô cùng rõ nét:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

Hai câu thơ đã tái hiện lại hình ảnh của người chinh phụ đang phải ở nhà một mình. Người phụ nữ đi ra, đi bảo với một tâm trạng thấp thỏm, lo âu, hêt cuốn rèm lên rồi lại rủ rèm xuống. Đó là những hành động được thực hiện trong vô thức khi mà tâm trạng của con người đang rối bời, không tập trung được vào việc gì. Dường như lúc này thời gian đang trôi đi một cách nặng nề, nhàm chán trong một trạng thái tâm lý bồn chồn nhưng lại không có lấy một người để chia sẻ.

phan tich bai tho chinh phu ngam - Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết)

Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm

Trong nỗi niềm tâm sự của mình, người chinh phụ có nhắc đến tiếng chim thước. Trong hoàn cảnh này, tiếng chim vẫn im bặt khiến cho người chinh phụ phải trách móc. Ban đầu, người chinh phụ còn nghĩ ngọn đèn có thể lắng nghe lời tâm sự của mình nhưng rồi cuối cùng thì nàng hiểu rằng đèn có biết cũng chẳng để làm gì:

Xem thêm:  Tóm tắt Truyện lạ nhà thuyền chài trích Thánh Tông di thảo

Ngoài rèm thước chẳng mách tin

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng

Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

Buồn rầu nói chẳng nên lời

Hoa đèn kia với bóng người khá thương

Ngọn đèn đã cùng với nàng thức suốt những đêm thâu vời vợi, chứng kiến sự trằn trọc của nàng trong đêm vắng. Trong ca dao, chúng ta cũng đã từng bắt gặp ngọn đèn ấy. Ngọn đèn vô tri không thể nào an ủi được nàng. Sự lặp đi lặp lại từ chẳng là một cách để phủ định sự tồn tại của con chim thước, đồng thời cũng là cách tác giả nhấn mạnh nỗi cô đơn của người chinh phụ. Nó càng làm tăng lên sự héo úa và tàn lụi. Đèn và người chinh phụ là hai đối tượng khác biệt nhưng có sự đồng nhất. Nàng thương cho đèn cũng là thương cho chính mình. Nỗi niềm xót thương mà người chinh phụ bày tỏ giống như một bản tố cáo tội ác chiến tranh một cách đanh thép. Nỗi niềm ấy xuyên qua cả không gian và thời gian:

Gà eo óc gáy sương năm trống

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên

Nội tâm của nhân vật được ẩn phía sau những câu thơ hướng về ngoại cảnh. Âm thanh của tiếng gà eo óc chính là âm thanh của tâm trạng. Người chinh phụ ngắm nhìn bóng hòe là để đếm từng thời khắc trôi đi. Mong sao cho thời gian trôi qua thật nhanh bởi vì mỗi giờ lúc này dài như cả chục năm:

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa

về thời gian của người chinh phụ thật đặc biệt. Bằng cách sử dụng những từ láy mang tính biểu bảo, nhà thơ đã khắc sâu thêm thời gian chờ đợi miên man của người chinh phụ. Người chinh phụ trong trạng thái cô đơn cũng đã cố gắng để thoát ra:

Hương gượng đốt hồn đà mê mái

Gương gượng soi lệ lại châu chan

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

Thế nhưng mọi sự cố gắng của người chinh phụ đều chìm vào bi kịch. Nàng đốt hương để tìm được sự ấm áp, soi sương để tìm hình ảnh khát, gảy đàn để khuây khỏa lòng nhưng mọi thứ đều không được như ý muốn. Sau khi tiễn chồng ra trận, người chinh phụ đã thấm thía cảm giác chờ đợi, mòn mỏi, nhớ nhung và rồi bế tắc. Nhưng sau sự bế tắc ấy, tậm trạng của người chinh phụ bỗng trở nên nhẹ nhõm hơn, câu thơ đã vượt khỏi căn phòng bé nhỏ mà vươn mình ra ngoài vũ trụ bao la:

Xem thêm:  Cây lau chứng kiến việc nàng Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vân. Em hãy viết văn bản kể lại câu chuyện đó theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba (mở rộng truyện Chuyện ngươi con gái Nam xương của Nguyễn Dữ)

Lòng này gửi gió đông có tiện

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non Yên dù chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

Đoạn thơ đã thể hiện rõ nét tấm lòng của người chinh phụ đáng giá nghìn vàng. Bên cạnh đó với việc sử dụng điệp từ gửi cho thấy nỗi khát vọng lớn lao, mạnh mẽ của người chinh phụ khi muốn được chia sẻ cùng chồng. Núi Yên Nhiên ở đây chỉ là một hình ảnh ước lệ chứ không phải là nơi mà chồng của người chinh phụ đang đánh giặc:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi

Đã ra nơi chiến trận thì không ai có thể hẹn trước ngày trở về. Nỗi đau của người chinh phụ là nỗi đau chung của những người phụ nữ thời ấy. Nỗi cô đơn, sầu héo va sự thất vọng kéo người chinh phụ trở về với thực tại:

Cảnh buồn người thiết tha lòng

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun

Tác phẩm chinh phụ ngâm không chỉ có ý nghĩa về mặt giá trị thẩm mĩ mà còn có giá trị nhân đạo sâu sắc. Bài thơ là tiếng nói tố cáo tội ác của chiến tranh phi nghĩa, đồng thời đề cao khát vọng tình yêu của con người.

Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm. Với phần lập dàn ý và bài văn mẫu trên đây, hy vọng các em đã có thể tự làm một bài văn phân tích của riêng mình.

Thu Thủy

Bài viết liên quan