Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất

0
Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu

Bài làm

Thơ ca về cuộc chiến đấu gian khổ của dân tộc ta luôn đứng một vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà. Đó cũng là chủ đề dành được nhiều sự quan tâm và hình ảnh anh vệ quốc quân, tình đồng đội, đồng chí cũng trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các nhà thơ, nhà văn. Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu chính là một trong những sáng tác hay nhất về tình đồng chí.

Mở đầu bài thơ chính là lời giới thiệu về xuất thân, hoàn cảnh về tình cảm đồng đội, đồng chí:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Những người chiến sĩ đến từ mọi miền trên Tổ quốc, từ miền núi đến đồng bằng, hay tới tận những vùng ven biển. Quê hương của họ còn nghèo khó bởi “nước mặn đồng chua”, bởi “đất cày lên sỏi đá”, cho thấy sự khắc nghiệt, khó khăn về điều kiện sống, điều kiện sản xuất. Tuy nghèo đói nhưng đứng trước vận mệnh đất nước lâm nguy, trước cảnh lầm than của nhân dân thì họ đều có chung quyết tâm rời xa quê hương để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Qua đó ta có thể thấy được những người chiến sĩ tuy xuất thân từ những vùng miền khác nhau nhưng đều cùng chung lý tưởng và thế rồi “chẳng hẹn quen nhau”. Họ không quen nhau thông thường mà đó là cùng nhau kề vai sát cánh từ chiến trường đến những lúc nghỉ ngơi:

Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất

Phân tích bài thơ Đồng Chí

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

Tất cả những tinh cảm đó được nhà thơ Chính Hữu đúc kết lại thành hai từ “Đồng Chí!”. Câu thơ ngắn gọn nhất nhưng lại mang nhiều cảm xúc, sự suy nghĩ cho người đọc. Tác giả như khẳng định thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý của những con người từ “lạ” cho đến quen nhau ấy.

Không chỉ dừng lại ở đó mà Chính Hữu còn tiếp tục khẳng định tình đồng đội, đồng chí gắn bó qua những câu thơ tiếp theo:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Loading...

Để đến được chiến trường thì những người lính đã phải rời xa nơi họ sinh ra và lớn lên, họ phải bỏ lại những tháng ngày lao động, sinh hoạt đời thường. Ruộng nương thì gửi bạn, căn nhà đơn sơ không có ai sửa sang nay vẫn đứng im lìm nơi đó “mặc kệ gió lung lay”. Thế rồi khi ra đi họ nhớ về quê hương nhưng đồng thời quê hương cũng nhớ về những người con của họ từ làng ra đi vì nghĩa lớn. Giếng nước, gốc đa là những hình ảnh quen thuộc của làng quê nay được nhà thơ sử dụng phép nhân hóa khiến chúng giống như đang mang nặng nỗi nhớ thương đến những người con của quê hương nay ra đi để trở thành chiến sĩ. Nhà thơ nhắc đến những hình ảnh quen thuộc ấy còn mang ý nghĩa về động lực của người chiến sĩ để họ có thể chắc tay súng, bảo vệ xóm làng, quê hương.

Trong những ngày đầu kháng chiến với biết bao khó khăn gian khổ, nhưng những người chiến sĩ không hề nản bước mà mạnh mẽ đối mặt, vượt qua những gian nan ấy:

“Áo anh rách vai

Quần anh có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

Những thiếu thốn về vật chất, đến manh áo cũng không còn nguyên vẹn, đôi chân hằng ngày hành quân biết bao nhiêu gian khổ nhưng họ vẫn có thể mỉm cười đối mặt. Không chỉ thiếu thốn về vật chất mà họ còn phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, với địa hình hiểm trở nhưng dừng như tất cả chỉ làm cho tình đồng chí trở nên thắm thiết, gắn bó hơn:

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Những người lính đã động viên, đã chia sẻ với nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, của tình đồng đội. Chính điều đó giúp họ cảm thấy những thiếu thốn về vật chất chẳng đáng kể, vượt qua những cơn sốt rét rừng hoành hành, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết. Giữa cảnh “rừng hoang sương muối” ấy, những người lính vẫn đang vững tay súng để phục kích, để sẵn sàng đối mặt với quân thù bất cứ lúc nào. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” khép lại bài thơ đồng thời cũng là hình ảnh vừa chân thực lại vừa lãng mạn. Giữa đêm khuya nơi cánh rừng hoang, trên bầu trời có vầng trăng tỏa sáng, ánh sáng dịu nhẹ phủ lên hình ảnh tươi đẹp dưới mặt đất đó là hình ảnh những người chiến sĩ đứng phục kích chờ giặc tới. Nhìn từ xa vầng trăng giống như đang được treo lơ lửng trên đầu ngọn súng. Ánh trăng chính là biểu tượng của hòa bình qua đó thể hiện khát vọng của nhà thơ cho đất nước sớm được hưởng thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu chính là một bức tranh sống động về tình đồng chí của những anh bộ đội cụ Hồ trong những buổi đầu kháng chiến. Bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp về tinh thần, về lý tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc của những người chiến sĩ cách mạng. Đây chính là bài thơ viết về tình đồng chí hay nhất, để lại nhiều cảm xúc trong lòng độc giả.

Loan Trương

Chia sẻ bài viết:
<