Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất

0
Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Phạm Ngũ Lão là một trong những danh tướng nổi tiếng nhất dưới triều đại nhà Trần. Ông không chỉ là một vị tướng giỏi binh thao, võ lược mà còn là một nhà thơ có những quan niệm về chí làm trai, về lòng yêu nước rất đặc sắc. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Tỏ Lòng.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, ngắn gọn, súc tích. Mở đầu bài thơ chính là hình ảnh hào hùng, tráng lệ của quân đội thời Trần:

“Hoành sóc giang san kháp kỷ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

(Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Hai câu thơ với hai hình ảnh song song với nhau đó là hình ảnh người tráng sĩ và ba quân. Ở câu thơ thứ nhất thì hình ảnh tráng sĩ hiện lên với tư thế hiên ngang, lẫm liệt giữa đất trời. Người cầm ngang ngọn giáo với mục đích cao cả đó là giữ gìn non sông, đất nước. Công cuộc ấy không chỉ trong ngày một ngày hai mà đã là “mấy thu”. Sự nghiệp bảo vệ đất nước là lâu dài và không được lơ là cảnh giác. Chính vì vậy tư thế “hoành sóc” đã cho ta thấy tâm thế sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, sự tập trung cao độ của người cầm giáo. Ngọn giáo không chỉ là vũ khí chiến đấu của người anh hùng, mà còn là thứ để họ thể hiện tài năng, bản lĩnh của mình, thể hiện tư thế hiên ngang, bất khuất. Bên cạnh ý nghĩa thời gian dài “kháp kỷ thu” thì ý thơ còn có ý nghĩa đó là so sánh tầm vóc của ngọn giáo với chiều dài của lịch sử và chiều rộng của giang sơn, đất nước.

Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất

Phân tích bài thơ Tỏ Lòng

Câu thơ thứ nhất đã lột tả được tầm vóc của vị tướng quân, của người tráng sĩ thời Trần thì đến câu thơ thứ hai tác giả đã miêu tả sức mạnh của quân đội nhà Trần:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Loading...

Một đội quân mang sức mạnh cả về khí lực lẫn tinh thần. Vẻ đẹp của đội quân không chỉ ở sức mạnh mà còn ở khí chất mạnh mẽ, lấn át của sao Ngưu trên trời. Sức mạn của quân đội Sát Thát thời Trần được ví như hổ có thể nuốt trôi cả một con trâu lớn. Sức mạnh ấy đã được minh chứng trong lịch sử. Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta luôn gặp phải kẻ thù lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần về số lượng, vú khí nhưng sự đoàn kết và lòng yêu nước đã khơi dậy tinh thần sắt thép, không gì ngăn nổi ta đánh đuổi lũ giặc xâm phạm, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Nếu hai câu thơ đầu Phạm Ngũ Lão nói về vẻ đẹp, sức mạnh của vị tướng của quân đội nhà Trần thì hai câu thơ cuối tác giả đã thể hiện quan điểm của mình về trí làm trai thời ấy:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe thuyết Vũ Hầu)

Vốn là một thành viên trong đạo quân anh hùng ấy, nhà thơ từ một chiến binh trở thành một danh tướng khi tuổi đời còn rất trẻ. Đối với ông, đã làm đấng nam nhi trên đời này thì cần phải luôn sục sôi trong mình khát vọng công danh, khát vọng được bỏ công sức chiến đấu, cống hiến cho đời. Đó là quan điểm trung quân ái quốc, đặc biệt đó là trong thời chiến thì phải xông pha trận mạc, bảo vệ giang sơn. Câu thơ thứ ba đã nói lên khát vọng của nhà thơ đó là tận tâm phụng sự cho nhà Trần, là lập được công danh để sánh với non sông. Phạm Ngũ Lão muốn bàn đến chí làm trai, một vấn đề được quan tâm trong văn chương thời văn học chữ Hán. Nguyễn Công Trứ cũng từng nói:

“Làm trai đứng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Đối với ông nếu chưa lập nên công danh gì thì phải biết “thẹn” với lương tâm, thẹn với đời. Phạm Ngũ Lão mặc dù đã trở thành danh tướng, lập được nhiều công danh nhưng so với khát vọng của ông thì vẫn chưa đủ và ông vẫn cảm thấy mình còn mang món “nợ công danh”. Chính vì thế mà ông thấy “thẹn” khi nghe điển tích về Vũ Hầu. Qua đó ta thấy ông là một con người mang chí lớn, biết khiêm tốn và có lòng tự trọng cao.

Bài thơ Tỏ Lòng đã cho người đọc thấy được tấm lòng “Trung quân ái quốc” và phẩm chất cao quý của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Bằng ngôn từ hàm súc, cô đọng, nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một bài học về chí làm trai về mục tiêu của cuộc sống mà không chỉ thời xưa mới cần đến. Đó là bài học về lối sống tích cực, khát vọng cống hiến cho tổ quốc đối với thanh niên của mọi thời đại.

Loan Trương

Chia sẻ bài viết: