Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

Bài làm

Trong phong trào Thơ Mới 1930-1945 nhà thơ Huy Cận được nhiều người biết đến với phong cách thơ rất riêng. Thơ của ông thường mang theo nỗi ưu sầu nhân thế nhưng đồng thời cũng ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên. Bài thơ Tràng Giang chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông trước Cách mạng tháng Tám.

Tràng Giang được trích từ tập Lửa Thiêng và được sáng tác khi ông đang đứng ở bên bờ của sông Hồng. Trước cảnh mênh mông sóng nước, mây trời có lẽ khiến cho người thi sĩ càng thêm cảm nhận được kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời. Mang theo những cảm nhận đó cùng với nỗi buồn u hoài khiến cho bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển lại vừa có tính hiện đại.

Ngay từ nhan đề của bài thơ thì thi sĩ đã gợi tới một nét đẹp cổ điển khi sử dụng từ Hán Việt. Tràng Giang có nghĩa là sông dài, đồng thời cũng nói lên hình tượng trung tâm của bài thơ. Vần “ang” kéo dài hai tiếng tiêu đề gợi cho người đọc không chỉ về dòng sông dài vô tận mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Khác với những nhà thơ cùng thời khi thể hiện cái tôi của mình thì Huy Cận lại ẩn sau sự mênh mông của sông nước. Nhà thơ không tìm đến thiên nhiên để hòa nhập, để giao cảm với đời mà ông đến với thiên nhiên để nhờ thiên nhiên mà biểu hiện sự ưu tư, phiền muộn về kiếp người cô đơn, nhỏ bé giữa vũ trụ bao la, vô tận. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây chính là “bâng khuâng”, một nỗi nhớ khó tả, một nỗi buồn, lạc lõng. Trước cảnh trời rộng, sông dài khiến cho con người càng thêm nhỏ bé, hiu quạnh. Lời đề từ như đã khái quát nên toàn bộ nội dung của bài thơ.

Ngay ở những câu thơ đầu thì người đọc đã bắt gặp khung cảnh trầm buồn:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Ở những vần thơ trên toát lên một vẻ đẹp cổ điển tinh tế. Đó là việc tác giả sử dụng các từ láy “điệp điệp”, “song song” đầy sức gợi hình, gợi cảm khiến cho câu thơ mang nét Đường Thi. Trên con sông dài ấy thì hình ảnh đầu tiên mà nhân vật trữ tình hay chính là tác giả chú ý đến chính là những con sóng. Những con sóng như nối tiếp nhau trùng trùng, điệp điệp chạy xa tít không thấy điểm cuối. Sóng giống với con người mang tâm trạng u hoài, dường như sóng cũng có tình cảm cảm xúc đó chính là “buồn điệp điệp”. Song song với con sóng ấy chính là con thuyền xuôi mái, một con thuyền như lờ lững trôi chứ chẳng hề vội vã. Qua những hình ảnh ban đầu đó khiến chúng ta như lặng đi trước thiên nhiên quá đỗi mênh mông, hoang dại.

Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất

Phân tích bài thơ Tràng Giang

Dòng sông mênh mông, bát ngát mà nỗi buồn của nhân vật trữ tình cũng dâng đầy. “Thuyền” và “nước” luôn gắn liều với nhau, thế nhưng Huy Cận cảm thấy như cả hai đang tách riêng mỗi bên mỗi ngả. Cả thuyền và nước dường như đều chất chứa nỗi buồn mênh mang khi phải xa cách nhau, nỗi buồn ấy không phải hai hướng mà là “trăm ngả”, một nỗi buồn như vô hạn, không thấy hết được. Giữa cái rộng lớn, mênh mông của dòng sông, của nỗi buồn thì tâm trạng của chủ thể trữ tình đã được bộc lộ qua câu thơ” Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Phía trước đó là “trăm ngả” đối lặp với “một cành” đã cho thấy sự nhỏ bé, cô đơn của con người, của tác giả khi đứng giữa thiên nhiên.

loading...

Huy Cận rất tài tình trong việc tả cảnh ngụ tình. Chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi và không hề nhắc tới con người nhưng người đọc vẫn cảm nhận sâu sắc về tâm trạng, tình cảm, cảm xúc của nhân vật. Hình ảnh “củi một cành khô” như hé mở nên tâm trạng của nhân vật trữ tình và nó gợi mở nhiều hơn qua những câu thơ tiếp theo:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Chỉ trong một câu thơ nhưng lại có đến hai từ láy đó là “lơ thơ” và “đìu hiu”, qua đó khắc họa nên một quang cảnh vắng vẻ, thê lương. Đối lập với “tràng giang” đó là “cồn nhỏ”, càng tô đậm cho sự nhỏ bé. Đến đây ta mới thấy trong bài thơ xuất hiện âm thanh về sự sống của con người. Nhưng âm thanh của chợ chiều ấy lại ở xa tít tắp nên nhà thơ chỉ nghe thấy thấp thoáng, không rõ ràng. Câu thơ giống như khát vọng, mong mỏi của nhân vật trữ tình về một khung cảnh có sức sống, có hoạt động của con người. Tuy nhiên mong mỏi đấy dường như lại quá xa vời trong thực tại.

Bỏ lại âm thanh vang vọng phía xa, nhà thơ lại tiếp tục dõi theo cảnh vật thiên nhiên ngay trước mắt:

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Từ đầu bài thơ mặc dù ta bắt gặp ít âm thanh nhưng sự chuyển động của thiên nhiên là có, đó là sự chuyển động của “con thuyền xuôi mái”, của củi “lạc giữa dòng”. Đến với khổ thơ thứ hai này thì thiên nhiên giống như gợi lên sự chuyển động, mở rộng về không gian. Nắng và trời dường như chuyển động về hai hướng ngược chiều nhau khiến chúng càng trở nên xa cách. Những gì thuộc về thiên nhiên, vũ trụ thì mênh mông, to lớn đó là “sông dài, trời rộng” còn những gì thuộc về con người thì lại “cô liêu”. Hai câu thơ với những thi liệu quen thuộc trong thơ cổ đã khắc họa tài tình về cảnh vật nhưng đồng thời cũng làm nổi rõ lên sự trái ngược giữa con người và cảnh vật.

Từ trời mây nhà thơ như lại rơi ánh mắt về dòng sông với mong muốn kiếm tìm một thân ảnh quen thuộc nhưng càng tìm kiếm thì lại càng cảm thấy cô liêu, hiu quạnh:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cần gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh cánh bèo trôi giữa dòng tương đồng với cành củi khô ở khổ một. Ta đều thấy một sự bấp bênh, vô định, không biết nay đây mai đó ra sao. Nó giống như cuộc đời con người khi trải qua mỗi ngày trên nhân thế. Tiếp nối “bờ xanh tiếp bãi vàng” chính là hình ảnh cổ điển xen với nét đẹp hiện đại:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Mây trời như đang có sự chuyển động “đùn”, giống như nhiều lớp mây cứ đùn ra mãi, không giới hạn. Chủ thể trữ tình đã dành thời gian cả buổi đến hoàng hôn để ngắm cảnh sông nước. Bóng chiều như đè nặng lên đôi cánh bé nhỏ khiến những chú chim như phải bay nghiêng để trở về tổ. Trong thơ cổ khi nhắc tới chiều tà vừa là khoảng thời gian kết thúc một ngày làm việc, chim mỏi cánh về chỗ ngủ đồng thời cũng là thời điểm mà con người ta dễ dàng xúc động và mang tâm trọng buồn man mác. Chính vì thế mà Huy Cận đã cho chúng ta chính thức bắt gặp tâm trạng của chính nhà thơ hay của nhân vật trữ tình trước thời cuộc:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Bài thơ Tràng Giang là một thi phẩm vừa mang nét đẹp cổ đại lại vừa có tính hiện đại. Chính nhờ hai vẻ đẹp ấy mà độc giả càng thêm khắc sâu cảnh sắc thiên nhiên sông nước rộng lớn và tình cảnh nhỏ bé, cô liêu của con người giữa cảnh vật ấy.

Loan Trương

Chia sẻ bài viết:
DMCA.com Protection Status