Home Văn mẫu THPTVăn mẫu lớp 10 Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

by Văn Mẫu
273 views

Đề bài: Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

Đời người, với những nỗi buồn sầu thế và những bất hạnh khôn cùng trải dài ra mênh mông, vô tận, cập bến lửa thiêng và đến với nhà thơ Nguyễn Du- một đại thi hào của dân tộc. Thân phận , đặc biệt là thân phận người con gái trong xã hội phong kiến suy tàn với bao bất công ngang trái, coi trọng thế lực đồng tiền đã đi vào trái tim nhà thơ với bao rung cảm và bao xót xa đau đớn. Hình tượng Thuý Kiều ra đời trong bao dồn nén về cuộc đời, về thân phận của nhà thơ. Đó là đại diện cho một kiếp người, một lớp người trong xã hội phong kiến hủ bại và thối nát. Qua hình tượng nàng Kiều và với những giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc trong tác phẩm “Truyện Kiều”, ta có thể thấy rõ được quan niệm nghệ thuật mới tiến bộ về , về cá nhân của đại thi hào Nguyễn Du.

kieu74 - Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều

“Truyện Kiều” được sáng tác dựa trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc “Kim Vân Kiều truyện”. Tuy nhiên Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm mới, với cảm hứng mới, nhận thức lý giải về nhân vật theo cách của riêng ông, với thể loại truyện thơ khác hẳn “Kim Vân Kiều truyện” là tác phẩm tự sự văn xuôi.

Nhân vật nàng Kiều hiện lên trên nền bi kịch của cuộc đời. Nàng có ý thức về nhân phẩm của mình nhưng lại bị xã hội hủ bại chà đạp nhân phẩm. Đó là bi kịch lớn nhất của đời người. Nỗi xót xa, đau đớn bao trùm lên một con người mà “hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh”, “một hai nghiêng nước nghiêng thành- Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”. Văn học trung đại viết về con người đã ít, viết về , đặc biệt là số phận của người phụ nữ lại càng ít hơn. Với cái xã hội trọng nam khinh nữ thì một Nguyễn Du và một “Truyện Kiều” xuất hiện như toả sáng nền văn học tối tăm, soi đường chỉ lối và tôn lên giá trị nhân phẩm cao quý của con người.

Thuý Kiều- một người con gái tài hoa, xinh đẹp- một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà, một tài năng hiếm thấy, nổi bật về cả cầm, kì, thi, hoạ. Nguyễn Du đã dồn hết tâm huyết của mình vào sáng tạo hình tượng Thuý Kiều, tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ vốn không được coi trọng trong xã hội đương thời bằng một tấm lòng trân trọng yêu thương. Đó là điều hiếm, hoặc thậm chí không tìm thấy trong các tác phẩm trước “Truyện Kiều”, và các nhà thơ khác trước Nguyễn Du. Nghệ thuật đòn bẩy được sử dụng thật tài tình, cái đẹp “mười phân vẹn mười”, “sắc sảo mặn mà”, Thuý Kiều quả là một giai nhân hiếm có trên đời. Nếu như Thuý Vân có một vè đẹp “mây thua”, “tuyết nhường”, hài hoà với cảnh vật xung quanh, với thiên nhiên, tính cách đoan trang thuỳ mị như ngầm báo trước một tuơng lai êm đềm, phẳng lặng thì Thuý Kiều với vẻ đẹp khiến cho “hoa ghen”, “liễu hờn”, ngầm dự báo trước số phận của nàng sẽ gặp nhiều bất trắc, nhiều sóng gió bão táp. Nàng Kiều đã tự viết lên khúc nhạc ai oán, não nùng. Phải chăng nàng đã tự dự đoán trước được tương lai, số phận của mình- tương lai, số phận của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh trong cái xã hội chỉ coi trọng đồng tiền mà vùi dập, chà đạp lên thân thể, danh dự và cả nhân phẩm của con người. Qua hình ảnh nàng Kiều, ta thấy được cái nhìn yêu quý, trân trọng, cảm thông của Nguyễn Du với nhân vật lý tưởng của mình, cũng như với những kiếp người nhỏ bé trong xã hội. Đó là quan niệm nghệ thuật mới tiến bộ về con người, cá nhân của nhà thơ Nguyễn Du.

Biết cảm thông, chia sẻ, Kiều đã cảm thấy rất buồn và thương cho nấm mộ Đạm Tiên bên đường cỏ mọc hoang, không ai chăm sóc. Người con gái mang kiếp cầm ca, sống thì bị dè bỉu, chết đi thì nấm mồ cũng vẫn cô đơn hiu quạnh.

“Kiếp hồng nhan có mong manh

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”

Phải chăng, cũng từ đây mà một cơn giông tố đang sắp ập đến trên đầu người thiếu nữ vô tội. Nấm mồ hoang kia phải chăng như một sự báo thức, như đánh dầu bước ngoặt cuộc đời của Kiều:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Kiều- một con người có vẻ đẹp ngoại hình, có tâm hồn trong sáng, lương thiện, tài năng, đồng thời nàng cũng là người có khát vọng tình yêu, hạnh phúc, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến:

“Tình trong như đã mặt ngoài còn e

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê”

Đặc biệt là hình ảnh “xăm xăm băng nẻo đường khuya một mình” của Thuý Kiều để tìm Kim Trọng, tìm đến hạnh phúc của mình. Kiều đã vượt qua những gò bó của thời cuộc để đi tìm hạnh phúc, điều mà khó tìm thấy nơi những người con gái khác trong khi quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” vẫn đang tồn tại rất mạnh mẽ trong xã hội. Nguyễn Du đã làm cho nhân vật của mình thật nổi bật trên nền xã hội đồng tiền, xã hội phong kiến hủ bại, thối nát. Ông coi trọng con người, coi trọng sự tự do, hạnh phúc và quyền được tìm hạnh phúc cho mình của mỗi người mặc cho định kiến xã hội đang vây lấy tất cả.

“Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

Lại mang lấy một chữ tình

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”

Con người sinh ra tài hoa không phải là một cái tội, nhưng đặt trong hoàn cảnh lễ giáo phong kiến, những người có tài, có sắc, đặc biệt là người phụ nữ lại hay phải chịu những truân chuyên, vất vả. Đang ở độ tuổi đẹp nhất của thời con gái, vừa gặp được mối tình đầu của mình, tưởng như sẽ chuyển mình bước trên một hạnh phúc, nhưng ông trời thường hay thử lòng người. Phải chăng, khúc nhạc mà Kiều sáng tác trước kia đã trở thành chính cuộc đời nàng, ai oán và não nùng. Chỉ vì đồng tiền, bọn sai nha đã gây nên vụ án oan trong gia đình Kiều, vì đồng tiền mà bọn chúng đã phá hoại hạnh phúc gia đình Kiều, từ một mái ấm êm đềm bỗng tan hoang, lạnh lẽo. Thuý Kiều, với tư cách là một người chị cả phải đứng ra lo liệu mọi chuyện, nàng phải hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền hối lộ cho sai nha để cứu cha và em khỏi bị tra khảo dã man. Bi kịch cuộc đời bắt đầu từ đây, khi mà con người, khi mà nhân phẩm bị người ta mua đi bán lại như một món hàng. Mã Giám Sinh, Tú Bà xuất hiện càng làm nổi bật lên hình tượng một Thuý Kiều bất hạnh, đau đớn ê chề:

“Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ

… Cò kè bớt một thêm hai”

Cái tài, cái sắc giờ đây bị mang ra cân đong đo đếm, bị quy ra thành tiền:

“Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Cảnh mua bán hiện lên thật sinh động, có người mua, kẻ bán, có sự thử hàng, trả giá, mặc cả, giao kèo. Từ “ép”, “thử” đã lột trần bản chất của Mã Giám Sinh, đồng thời khắc hoạ được rõ nét nỗi đau đớn, bất hạnh khi bị coi như một món hàng mua bán của Thuý Kiều. Từ một nghìn mà bị ngã giá xuống bốn trăm lạng, trong xã hội đồng tiền, con người chỉ đáng giá thế thôi sao?

Xã hội phong kiến đã chà đạp lên nhân phẩm và đạo đức của con người. Phẩm giá bị xúc phạm, Thuý Kiều căm tức những kẻ đã gây ra cho gia đình nàng nỗi ô nhục này: “nỗi mình thêm tức nỗi nhà”. Nàng đau xót, nàng khóc cho số phận hẩm hiu của mình:

“Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng

Ngại ngùng dợn gió e sương”

Hình ảnh Thuý Kiều hiện lên thật tội nghiệp. Nàng đau khi nghĩ đến “nỗi mình”- tình duyên dang dở, “nỗi nhà” bị vu oan giáng hoạ. Mỗi bước đi của nàng nước mắt tuôn mà lòng quặn thắt. Là một tiểu thư khuê các mà giờ đây lại trở thành một món hàng nên càng tủi thẹn, xấu hổ ê trề khi phải đối mặt với sự thật. Nhưng Thuý Kiều càng buồn bao nhiêu thì lại càng đẹp bấy nhiêu: “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”. Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã khắc hoạ thành công nỗi buồn của Kiều, đồng thời thể hiện niềm cảm thông sâu sắc trước thực trạng con người bị chà đạp. Thuý Kiều hiện lên trên bức tranh khổ đau vẫn thật đẹp về cả ngoại hình lẫn nhân phẩm. Dù bị xã hội dồn ép, đè nén, nhưng hình ảnh một người con gái hi sinh hạnh phúc của mình và gia đình hiện lên thật đáng quý, đáng trọng. Đó cũng là nét nghệ thuật tiến bộ về con người, cá nhân của Nguyễn Du khi mà trong văn học cũ, con người không được đề cao.

Biết rằng cuộc đời mình sẽ chuyển sang một trang mới, biết rằng mối tình Kim- Kiều sẽ chẳng đi về đâu. Sau những đêm trắng nghĩ đến thân phận và tình yêu, Kiều quyết đinh nhờ Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng:

“Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

Giữa đường đứt gánh

Kheo loan chắp mối tơ thừa mặc em”.

Là chị mà Kiều phải lạy, phải thưa với em của mình, một thái độ vừa kính trọng, vừa biết ơn. Kiều đã nghĩ rất chu toàn, biết rằng việc này rất khó cho Vân nên nàng rất khó để mở lời. Nàng tâm sự với em về mối tình trong sáng, cao đẹp của mình đối với chàng Kim. Đối với Kiều, giữa và chữ tình, nàng đều muốn trọn vẹn cả hai.

Đau đớn nhất trong đời người là nhân phẩm bị chà đạp, và nỗi đau đớn đó càng nhân lên gấp bội khi phải từ bỏ tình yêu của mình. Kiều trao duyên cho Thuý Vân mà lòng đau xót, nuối tiếc, nhớ lại tất cả những đã qua, nhận ra mình là người bạc mệnh:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này”.

Kiều về tương lai mờ mịt của mình, nàng nghĩ mình sẽ chết, nhưng dù có chết vẫn trở về lời nguyền thuỷ chung:

“Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

Đau đớn đến cực điểm, tâm hồn nàng như mê man, đang nói với em mà lòng như hướng về chàng Kim và mong chàng hiểu cho nỗi niềm oan khuất của mình:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

Phận sao phận bạc như vôi!

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”

Nỗi đau đớn, xót xa, nghẹn ngào đến xé lòng. Trong đau thương, Kiều vẫn sáng ngời lên vẻ đẹp của mình, giàu lòng vị tha và đức hi sinh”

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Từ một cô gái tiểu thư khuê các, vô lo vô nghĩ về cuộc đời, hạnh phúc tình yêu đang chớm nở, giờ đây Kiều đã mất tất cả, hạnh phúc lứa đôi, mái ấm gia đình. Nguyễn Du đã nhìn nhân vật của mình bằng một ánh mắt cảm thông, chia sẻ, cho nàng được bộc lộ nỗi đau đớn của mình. Mỗi dòng thơ, mỗi câu chữ đều thâm đẫm tình cảm của tác giả với số phận của Kiều, của những người con gái như Kiều, không chỉ thế, ông còn gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến đã gây ra cho con người bao tang thương, mất mát, bao đau đớn, ê chề, xã hội coi trọng đồng tiền hơn cả con người, cái xã hội mà tại đây, bao con người, bao người con gái đã bị dẫm đạp lên nhân phẩm, đã phải sống cuộc đời của một con người mà sống không bằng chết, đau đớn, nhục nhã. 

“Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”

Từ lúc gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thuý Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều đã gặp phải bao sự lọc lừa nhưng có lẽ đau đớn nhất là lần Kiều bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Đó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Kiều sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều rút dao tự vẫn nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị đánh đập tơi bời “Thân lươn bao quản lần đầu- Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. 

Sống ở lầu Ngưng Bích, trong cảnh cô đơn tuyệt đối, Kiều không biết tâm sự với ai, nàng đành tự tâm sự với chính mình. Trước hết nàng nhớ đến chàng Kim, nhớ đến lời thề đôi lứa: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng- Tin sương luống những rày trông mai chờ”. “Tưởng”, đó là tâm trạng của những người yêu nhau trong xa cách. Nàng nhớ đến lời dưới ánh trăng. Hình dung ra nỗi nhớ, sự chờ mong nàng trong vô vọng của chàng Kim. Nàng nghĩ đến chàng Kim trong cảnh cô đơn, bơ vơ nơi chân trời, góc bể. Thuý Kiều là một người con hiếu thảo nhưng tác giả lại để cho Kiều nhớ đến chàng Kim trước, nhớ đến cha mẹ sau. Điều này thể hiện sự tinh tế của tác giả phù hợp với quy luật tâm sinh lý bởi vì Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục, ép tiếp khách làng chơi nên nỗi đau lớn nhất của Kiều là “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Có thể hiểu theo hai nghĩa, tấm son là tấm lòng nhớ tới chàng Kim không bao giờ nguôi hoặc tấm lòng son của Kiều bị vùi dập hoen ố không biết bao giờ mới gột sạch được. Nàng nhớ đến cha mẹ sau vì dù sao, khi bán mình chuộc cha, nàng cũng đã phần nào báo đáp được cha mẹ. Nàng nhớ và thương cha mẹ khi sớm chiều tựa cửa ngóng trông con. Nàng xót xa lúc cha mẹ ốm đau mà nàng không được tự tay chăm sóc, phụng dưỡng. Nàng tưởng tượng cảnh quê hương tất cả đã thay đổi, và thay đổi lớn nhất là cha mẹ ngày càng già yếu. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích, không lúc nào là nàng không nhớ về Kim Trọng, về gia đình. Kiều đã bộc lộ phẩm chất đáng quý, một tấm lòng vị tha đáng trọng, một con người thuỷ chung, hiếu thảo. Nguyễn Du hiểu thấu tâm trạng và của nhân vật của mình. Với ngòi bút xuất sắc của mình, kèm các điểm tích, điển cố, tác giả đã làm tôn lên sáng ngời vẻ đẹp trong tâm hồn của người con gái bất hạnh, dù bị hoàn cảnh xô đẩy nhưng tâm hồn vẫn luôn trong sáng, lương thiện, luôn hướng về mái ấm gia đình, hạnh phúc lứa đôi. Đây cũng chính là phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại, ngời sáng những lý tưởng cao đẹp.

Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, Kiều càng thấm thía nỗi cô đơn trống vắng của mình:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trong ngọn cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh

Ầm ấm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Người buồn, cảnh cũng buồn. Nỗi buồn vô vọng, kéo dài, trải rộng ra mênh mang. Tiếng sóng như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên? Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi trước sóng gió, bão táp của cuộc đời đang sắp đổ xuống đầu nàng! Nỗi buồn thoảng thốt lo âu, dự cảm hãi hùng của một người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời lắm sóng gió và truân chuyên. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng để rồi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Tiếng sóng gầm lên dữ dội như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cô đơn, tội nghiệp trên chiếc ghế đời mỏng manh. Qua đó, ta càng thấy rõ được tấm lòng chân trọng, cảm thông của tác giả đối với số phận người con gái tài hoa bạch mệnh. “Trăm năm trong cõi người ta- Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Kiều- một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong sáng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm chướng rủ mành che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ, giữa cái xót. Sống trong cảnh lầu xanh biết bao “bướm lả ong lơi” mà Kiều vẫn giữ được một tâm hồn trong sáng. Giật mình lúc nửa đêm khi tỉnh rượu, nàng chợt nhận rõ tình cảnh của bản thân. Sống trong cảnh lầu xanh, Thuý Kiều vẫn không quên đi nỗi nhục của bản thân. Phải chăng, nếu nàng quên được thì đã không đau khổ đến thế này? Đau khổ vẫn ở trước mắt, quá khứ tươi đẹp lại quá xa xôi. Cảnh thiên nhiên đẹp nhưng thấm đậm nỗi buồn:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

….

Vui là vui ngượng kẻo là,

Ai chi âm đó mặn mà với ai?” 

Nàng chán chường vì không tìm ra được người tri âm tri kỉ. Câu hỏi được đặt ra giống như nàng đang đi tìm tri âm của mình, nhưng cũng chính là tự khẳng định: không có ai cả. Thuý Kiều rơi vào một tình cảnh trớ trêu, dễ làm con người đánh mất nhân phẩm. Kiều ý thức rõ nhân phẩm đau khổ của mình, tiếc nuối quá khứ, khinh ghét bản thân, thờ ơ với những thú vui ở lầu xanh. Nguyễn Du không thương xót chung chung mà ông chú ý đến nỗi đau cá nhân của con người. Sau lối xưng “ta” đặc trưng của văn học trung đại, ta chợt nghe thấy một giọng ca riêng cùng nỗi thương thân của cái “tôi”. Thương mình là nền tảng vững chắc cho lòng thương người. Mà đây là “nỗi thương mình” của con người dưới đáy xã hội nên nó càng mới lạ và giàu tính nhân đạo. Nó cho thấy Nguyễn Du quan tâm tới mọi tầng lớp trong xã hội chứ không chỉ ở tầng lớp trên. Không phải những người ở hoàn cảnh xấu đều xấu. Đó là nghệ thuật mới tiến bộ về con người, cá nhân của Nguyễn Du.

Bên cạnh những phẩm chất đáng quý trong tâm hồn, ở Kiều còn nổi bật lên hình ảnh một con người bao dung, giàu lòng vị tha. Đối với Thúc Sinh, kẻ đã cứu nàng thoát khỏi bùn lầy nhơ nhuốc, nàng đã rất trân trọng biết ơn:

“Nàng rằng nghĩa nặng nghìn non

Lâm tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”

Còn đối với Hoạn Thư, nàng cũng rộng lòng tha thứ: “Dã lòng tri quá thì nên- Truyền quân lịnh xuống trướng tiền tha ngay”. Thuý Kiều trong toàn tác phẩm hiện lên luôn thật cao đẹp và sáng ngời. Nguyễn Du đã thổi hồn vào cây bút, làm nên một Thuý Kiều đẹp về cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy cuộc sống luôn gặp nhiều bất trắc nhưng tâm hồn vẫn nở hoa giữa bùn nhơ của cuộc đời, của xã hội bất công chà đạp con người.

Trên một nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, sự lựa chọn thể truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn với chất tự sự và trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam. Qua hình tượng Thuý Kiều, cái mới trong quan điểm nghệ thuật về con người và cá nhân của Nguyễn Du được bộc lộ khá rõ nét. Ông đề cao, cảm thông sâu sắc đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh, những người phụ nữ. Những con người vốn bị coi rẻ trong xã hội vẫn được ông đề cập đến một cách trân trọng, thương yêu. Đồng thời ông cũng khái quát bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến, bộc lộ sự phẫn nộ đối với những kẻ chỉ vì đồng tiền mà hãm hại người khác, chà đạp lên nhâm phẩm của người khác. Ông là người đầu tiên trong văn học trung đại đã nêu lên một cách tập trung vấn đề về thân phận những người phụ nữ có sắc đẹp và tài năng văn chương nghệ thuật. Ông đã đề cập đến một số vấn đề rất mới nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần, do đó cần phải trân trọng những chủ thể đã sáng tạo ra những giá trị tinh thần đó. “Truyện Kiều” thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu đôi lứa.

Nguồn Edufly

Xem thêm:  Nêu suy nghĩ của em về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment