Home Văn mẫu THPTVăn mẫu lớp 10 Về bài Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.

Về bài Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.

by Văn Mẫu
27 views

Về bài Phú của .

Hướng dẫn

Mà nhục quân thù không rửa nổi

Các bô lão – nhàn vật mới xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống động biến hóa hẳn lên. Cảm hứng lịch sử mang âm hưởng anh hùng ca. Khách và bô lão ngắm dòng sông, con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng của tổ tiên.

Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thủa trước Ngô Chúa phá Hoằng Thao.

Sau và trước, gần và xa, ta và giặc, người và kẻ thảm bại được đặt trong thế tương phản đối lập đã khắc sâu và tô đậm niềm tự hào sông núi. Đằng giang tự cổ huyết do hồng vì nó là mồ chôn lũ xâm lược phương Bắc.

Năm 938, Ngô Quyền dùng kì mưu đại phá quân Nam Hán:

Bạch Đằng một trận giao phong

Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu.

Năm 1288, mở một trận quyết chiến – chiến lược bắt ô Mã Nhi và tiêu diệt hàng vạn giặc Nguyên – Mông:

Bạch Đằng một cõi chiến tràng,

Xương bay trắng đất, máu màng đỏ sông

(Đại Nam quốc sử diễn ca).

Trở lại bài phú: Đương khi ấy… đó là ngày 9 tháng 4 năm 1288, trận thủy chiến đã diễn ra ác liệt trên sông Bạch Đằng. Dòng sông nổi sóng với muôn đội thuyền bè. Cảnh tượng chiến trường vô cùng ác liệt: Tinh kì phấp phới – hùng hổ sáu quân-Giáo gươm sáng chói. Các dũng sĩ nhà Trần với quyết tàm Sát Thát, với dũng khímạnh như hổ báo xung trận. Chiến sự dữ đội ác liệt, giằng co: Trận đánh được thua chưa phân – Chiến lũy Bắc Nam chống đối. Khói lửa mù trời. Tiếng gươm giáo, tiếng quân reo, tiếng sóng vỗ. Ngựa hí voi gầm. Thuyền chiến giặc bị đốt cháy, bị va vào cọc gỗ bịt sắt nhọn mà vỡ, đắm tan tành. Mấu giặc nhuộm đỏ dòng sông. Trận đánh kinh thiên động địa được tái hiện bằng những nét vẽ, những chi tiết phóng bút, khoa trương rất thần tình. Âm nhạc và màu sắc, trực cảm và được tác giả phối hợp vận dụng, góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi:

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ

Bầu trời đất chừ sắp đổi.

Đại Việt sử kí ghi rõ: Các tướng giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống, hàng vạn giặc bị tiêu diệt. Quân ta thu được hơn 400 chiến thuyền. Giặc đã lần lượt nếm mùi thất bại, nhục nhã. Dòng sông Bạch Đằng như một chứng nhân lịch sử.

Đến nay sông nước tuy chảy hoài

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi!

Trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng của tổ tiên mang tầm vóc và qui mô hoành tráng, kì vĩ. Cũng như trận Xích Bích, trận Hợp Phì quân Tào Tháo tan tác tro bay… quân Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi, trận Bạch Đằng giang đã đập tan âm mưu bành trướng xâm lược của Lưu Cung, của Tất Liệt: Trời cũng chiều người – Hung đồ hết lối. “Hung đồ” là một cách nói khinh bỉ đối với lũ giặc phương Bắc.

Đất hiểm và nhân tài

Nhà thơ từ miêu tả, từ sự đến suy ngẫm về vinh nhục, về thắng bại trong lịch sử. Tổ quốc mãi mãi vững bền là nhờ có 2 nhân tốquan trọng: đất hiểm và nhân tài. Tính tư tưởng của cả áng văn này rất sâu sắc. Tác giả đã nêu lên bài học lịch sử vô giá:

Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở

Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an.

Bạch Đằng, Chi Lăng., là đất hiểm trở. Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung,…là nhân tài. Cuộc điện an là sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, hòa bình, yên vui cho đất nước.

Bằng lối so sánh, nhắc lại vai trò to lớn của Lã Vọng, Hàn Tín bên Trung Quốc để lại võ công lừng lẫy một thời, tác giả ngợi ca Hưng Đạo Vương người anh hùng vĩ đại thuở Bình Nguyên oanh liệt:

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng

Bởi Đại Vương coi thếgiặc nhàn.

Thế giặc nhàn là thế giặc dễ đánh thắng. Quả đúng như vậy, lần thứ 3 giặc Nguyên – Mông sang xâm lược nước ta đã bị ta đại bại. anh hùng coi thế giặc nhàn, tên tuổi sống mãi với Bạch Đằng giang, với đất nuớc Đại Việt: Tiếng thơm còn mãi – Bia miệng không mòn.

Đoạn văn miêu tả dòng sông, đoạn kể lại trận thủy chiến là đặc sắc nhất. Màu sắc tráng lệ. Hình ảnh kì vĩ. Phép đối được vận dụng rất tài tình để biểu lộ niềm tự hào dân tộc và sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam. Trương Hán Siêu đã bày tỏ một quan niệm về đất hiểm và nhân tài, về cái vinh và cái nhục, cái tiêu vong và cái vĩnh hằng… trong cuộc đời và trong lịch sử. Tư tưởng cao đẹp ấy được diễn tả một cách tráng lệ nên thơ, tạo nên vẻ đẹp văn chương của Bạch Đằng giang phú.

Cốt mình đức cao

Phần cuối bài phú là bài ca của các bô lão và khách về dòng sông, về đất nước và con người Việt Nam. Sông Bạch Đằng giang hùng vĩ một dải dài ghê, là mồ chôn lũ xâm lăng: Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông. Máu giặc như mãi mãi nhuộm đỏ dòng sông. Một cách nói hào hùng. Giặc bất nghĩa nhít định bị tiêu vong. Các anh hùng để lại tiếng thơm muôn đời lưu danh sử sách.

Nhà thơ dành cho 2 vua Trần những lời đẹp đẽ nhất

Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.

Thánh quân là Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ 2 và thứ 3 đánh thắng giặc Nguyên – Mông. Nhờ những nhân tài mà đất nước được đại an, nhờ những ông vua tài giỏi, sáng suốt, anh minh mà Đại Việt được thanh bình muôn thuở. Một lần nữa, tác giả lại khẳng định bài học lịch sử giữ nước. Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao. Đức cao là lòng yêu thương dân, là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là tinh thần cảnh giác trước hiểm họa ngoại xâm. Một nét đặc sắc trong thơ văn thời Trần là người hào khí Đông A còn nêu cao bài học xây dựng bảo vệ đất nước: Thái bình nên gắng sức-Non nước ấy ngàn thu (). Đức cao là nguyên nhân thắng lợi như Trần Quốc Tuấn đã nói: Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức. Đó là nguồn sức mạnh Việt Nam.

Tóm lại, Bạch Đằng giang phú là một bài ca yêu nước tự hào dân tộc. Tên tuổi Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn trường tồn với dòng sông lịch sử. Lời văn hoa lệ, tư tưởng tình cảm sâu sắc, tiến bộ. Chất trữ tình sâu lắng và giọng điệu anh hùng ca, không khí trang trọng, cổ kính, tài hoa trong miêu tả, hùng hồn trong tự sự, u hoài trong cảm xúc, sáng suốt lúc bình luận… là những thành công của Trương Hán Siêu. Đẹp vậy thay tiếng hát lòng:

Sông Đằng một dải dài ghê.

Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment